Chuyên đề pháp luật

Lương ngừng việc vì dịch bệnh Covid - 19

Tại Việt Nam, đại dịch Covid – 19 kéo dài hơn một năm qua đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là lao động, việc làm. Với việc bùng phát trở lại của dịch bệnh trong năm 2021, ảnh hưởng của dịch bệnh đến lĩnh vực lao động, việc làm càng thấy rõ khi hàng trăm ngàn lao động phải ngừng việc do doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động để đảm bảo phòng, chống dịch hoặc người lao động phải ngừng việc do bị cách ly. Số lượng lao động phải ngừng việc nhiều nhất có thể kể đến hai địa phương đang có số ca nhiễm nhiều nhất cả nước là Bắc Giang và TP. Hồ Chí Minh.

     Người lao động ngừng việc không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà còn tác động trực tiếp đến cuộc sống của người lao động. Do đó, chính sách tiền lương trong thời gian ngừng việc là điều được nhiều doanh nghiệp và người lao động quan tâm trong thời gian qua. Dưới đây là một số nội dung liên quan theo quy định hiện hành để người lao động và doanh nghiệp xem xét để thực hiện, tuân thủ và hỗ trợ nhau vượt qua giai đoạn khó khăn.

1.      Cơ chế pháp lý điều chỉnh

     Pháp luật hiện hành đã có cơ chế điều chỉnh vấn đề tiền lương trong thời gian ngừng việc. Theo đó, trong trường hợp người lao động phải cách ly tại nhà, nơi cư trú của người lao động bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước dẫn đến người lao động không thể đến nơi làm việc, công ty cũng không thể sắp xếp cho người lao động làm việc tại nhà hoặc người lao động phải cách ly tập trung theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì việc trả lương ngừng việc cho người lao động được thực hiện theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Lao động 2019.

     Theo quy định trên, không phải trường hợp nào Công ty cũng phải trả lương cho người lao động khi ngừng việc do dịch bệnh mà lỗi dẫn đến ngừng việc là vấn đề cần được xem xét khi xác định trách nhiệm trả lương.

2.      Áp dụng quy định pháp luật khi xác định trách nhiệm trả lương ngừng việc

2.1 Trường hợp ngừng việc do lỗi của người lao động

     Khoản 2 Điều 99 Bộ luật Lao động 2019 quy định tiền lương trong trường hợp ngừng việc: 2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương.

     Như vậy, trong trường hợp người lao động phải thực hiện cách ly do dịch bệnh Covid-19 theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, cần xem xét đến yếu tố lỗi của người lao động. Vì lý do dẫn đến ngừng việc khá nhiều nên pháp luật hiện hành không quy định chi tiết các trường hợp, yếu tố để xét lỗi của người lao động ngừng việc. Việc xác định lỗi trong trường hợp cụ thể sẽ xem xét quy định pháp luật và quy định công ty liên quan. Trong trường hợp này, lỗi của người lao động được xác định căn cứ vào việc chấp hành chính sách của người/cơ quan có thẩm quyền và chính sách đặc thù của công ty, nếu có. Theo đó, trường hợp người lao động không thực hiện các yêu cầu phòng chống dịch bệnh của cá nhân/cơ quan có thẩm quyền và chính sách của công ty dẫn đến việc phải thực hiện cách ly thì căn cứ theo quy định trên người lao động sẽ không được hưởng lương ngừng việc trong thời gian cách ly.

2.2 Trường hợp ngừng việc không do lỗi của người lao động

     Trường hợp việc cách ly dẫn đến ngừng việc không do lỗi của người lao động, công ty phải trả lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động 2019. Mức lương ngừng việc sẽ do Công ty và người lao động thỏa thuận trên cơ sở:

i.            Thời gian ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống: tiền lương ngừng việc không thấp hơn mức lương tối thiểu;

ii.           Thời gian ngừng việc trên 14 ngày làm việc: tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.

     Lương tối thiểu hiện nay được áp dụng là lương tối thiểu vùng. Trong đó, mức lương tối thiểu áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh được xác định theo Nghị định 90/2019/NĐ-CP.

     Trong trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận thì Công ty phải chi trả toàn bộ tiền lương cho người lao động trong thời gian cách ly. Thực tế cho thấy, việc thỏa thuận một mức tiền lương phù hợp trong thời gian người lao động không làm việc dựa trên tình hình kinh doanh của Công ty, tiền lương của người lao động, nhu cầu cuộc sống,... là cách san sẻ khó khăn của cả hai bên trong thời điểm này.

3.      Tiền lương ngừng việc theo phương thức tạm hoãn hợp đồng lao động

     Ngoài phương thức tạm ngừng việc, khi người lao động phải thực hiện cách ly không do lỗi của người lao động và với tình trạng kinh doanh của công ty quá khó khăn, Công ty có thể thỏa thuận với người lao động về việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động trong khoảng thời gian cách ly theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động 2019 như là giải pháp giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng phải giải thể hay phá sản. Trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng.

     Mặc dù pháp luật lao động hiện hành không có quy định về việc tính thời gian tạm hoãn đối với thời hạn hợp đồng lao động nhưng thực tế, các doanh nghiệp thỏa thuận cộng thời gian tạm hoãn vào thời hạn hợp đồng lao động như là phương án để đạt được thỏa thuận với người lao động. Đồng thời, việc thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động có thể thông qua phương tiện điện tử, như email trong trường hợp vì dịch bệnh nên không thể gặp để ký văn bản.

     Tình hình dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, khó khăn đối với doanh nghiệp và người lao động sẽ còn kéo dài và thậm chí theo chiều hướng càng xấu hơn. Đây là lúc doanh và và người lao động cần đồng lòng để chia sẻ khó khăn và khôi phục sản xuất để hạn chế trường hợp phải ngừng việc.

     Các vấn đề pháp lý khác về lao động liên quan đến dịch Covid – 19 sẽ được tiếp tục cập nhật như phương thức chúng tôi đồng hành cùng doanh nghiệp, người lao động trong giai đoạn khó khăn này.

Các thông tin khác
1 2 3 
Hỗ trợ trực tuyến

Tư vấn dịch vụ

Hỏi đáp pháp luật

 (028) 38 991104

 (028) 38 991104